Banner

SimBa Eco Company Limited.
Địa chỉ trụ sở: 20 Tâm Tâm Xã , Kp4, P. Linh Tây, Q.Thủ Đức, TP HCM - Điện thoại: 0905 967 925 -
máy lọc nước uống trực tiếp cho gia đình,

áo giữ nhiệt, tivi online, cua cuon, áo giữ nhiệt, xem phim online,sua chua nha ha noi,xuat khau lao dong nhat ban,

 

Mua sắm Online

 

Nhập từ khóa tìm kiếm.

Tên sản phẩm:

Sản phẩm mới

Máy làm bún tươi, Máy sản xuất bún tươi tự động, máy làm bún tươi tự động

Máy làm bún tươi, Máy sản xuất bún tươi tự động, máy làm bún tươi tự động
Ngày đăng: 28/02/2013

Giá bán: 70.000.000 VNĐ
Tình trạng: Còn hàng
Đặt mua:
MINI RICE NOODLES PRESSING LINE.

Capacity: 200 kg/hr.
Dimension: 3500 mm x 1000x 1200 mm
Material: stainless steel SUS-304
Power supply:
  1. 220 volt 3 phase
  2. 380 volt 3 phase
for export version : contact for quotation.by email kinhdoanh360.vn@gmail.com

We have more version for capacity.









Hệ thống máy làm bún tươi tự động giảm thiểu thời gian công sức, tăng cao chất lượng sản phẩm.
Thông số kỹ thuật:
4500x1000x1800mm, nặng 400 kg.

Máy làm bún tươi lớn nhỏ đủ loại công suất 100-200kg /h và lớn hơn theo yêu cầu.

Khi có nhu cầu quý khách aloo 0905967925 để được trợ giúp.
 
__________________________________
 


1. Giới thiệu sơ lược về bún:
Truyền thuyết
Làng Vân Cù lãng đãng trong sương mờ và mịt mùng dưới làn hơi của những lò bún tỏa ra. Thơm, mùi thơm của gạo, mùi tinh túy của nếp, mùi chín của từng thiên bún. Cái mùi thơm đó đã có từ rất lâu, thậm chí lên đến hơn 500 năm nay. Theo sách "Ô Châu cận lục” của cụ Dương Văn An, làng Vân Cù có bề dày lịch sử trên 500 năm. Ban đầu, làng có tên là Đào Cù thuộc huyện Đan Điền, chuyên nghề nung gạch. Sau đó, làng bỏ nghề gạch theo nghề bún nên có thêm tên tục là làng Bún.
Một trong những giai thoại đáng chú ý kể lại rằng: Ngày xưa, có một người đàn bà rất đẹp, thùy mị và khéo léo. Không rõ họ của bà là gì, chỉ biết bà tên là My, từ Thanh Hóa đi vào tìm đất lập nghiệp. Hành trang của bà chỉ có cái cối xay để giã gạo làm bún. Khi đến làng Vân Cù, vì kiệt sức, nên đành dừng lại và định cư luôn ở đây. Bà lấy nghề bún làm kế sinh nhai và dạy cho người dân trong vùng làm theo. Một ngày kia, vào buổi trưa, trong lúc bà đang làm bún, chẳng may hỏa hoạn nổi lên thiêu rụi nhà bà và lan sang những nhà khác. Bà bị bắt tội, trói giữa sân đình cho đến chết. Kể từ đó, cứ mỗi lần húy nhật của bà, trong làng đều có nhà bị cháy. Dân làng cho rằng bà bị chết oan nên hiển linh về báo oán. Những người được bà dạy nghề bèn lập miếu thờ và khấn vái xin giải oan cho bà và cũng cầu cho tai qua nạn khỏi. Kỳ diệu làm sao, kể từ đó, không còn cảnh cháy nhà nữa. Dân làng lại ngày càng ăn nên làm ra và nghề bún phát triển cho đến hôm nay. Bún Vân Cù nổi tiếng không đâu sánh được bởi có mùi vị đặc trưng riêng. Con bún khi ăn không chua mà thơm mùi tinh khiết của bột, không bở mà cũng không dai quá lại có màu trắng tinh. Với gia vị dù cao sang như nước xáo thịt bò, giò heo với hành sả hay chỉ là nước mắm chanh tỏi ớt đều rất ngon và đậm đà hương vị quê hương.
Vẫn mặn mà với nét xưa:
Ngày xưa, nghề làm bún là một nghề công phu và đòi hỏi quá trình làm rất vất vả. Nghề bún có chày, cối để giã gạo; khuôn để vặn bún; lò lửa để luộc bún; thúng, mủng để đựng bún… Để có được bún ngon, con bún trắng, gạo được dùng phải là gạo mua từ thành phố Vinh vào, đem ngâm nước sau đó cho vào cối giã, gạn lọc thành bột khô. Sau khi nấu chín bột, người làm bún phải dùng tay đánh bột nhuyễn thành hồ, sau đó bỏ vào khuôn vặn. Muốn con bún không quá bở cũng không quá dai, người làm bún phải pha thêm bột lọc. Nghề bún không chỉ đòi hỏi ở người làm sức khỏe mà còn đòi hỏi sự tinh tế trong cách pha chế. Tỷ lệ bột lọc cho vào trong bún không có công thức cụ thể mà đòi hỏi kinh nghiệm của người làm nghề.
Nỗi vất vả của nghề làm bún ngày xưa không chỉ ở công đoạn làm mà ngay cả việc bán. 2h sáng, khi mọi nhà đang chìm trong giấc ngủ thì người dân làng bún đã phải gánh bún theo chuyến đò ngang về các chợ Hương Phong, Hương Thọ… theo đò dọc lên Huế bán bún dạo. Vất vả là thế nhưng chưa bao giờ người dân làng bún có ý định bỏ nghề truyền thống của làng. Từ xưa đến nay, cùng với nghề nông, nghề bún là nghề sinh kế của làng.
Về làng bún hôm nay, vừa bước chân đến cổng làng đã nghe thoang thoảng đâu đây mùi thơm của gạo cùng tiếng máy xay rộn ràng... Ông Nguyễn Văn Vinh, Trưởng thôn Vân Cù tự hào: "Làng chúng tôi hiện tại có đến 200 trên tổng số 312 hộ làm bún. Bây giờ cuộc sống hiện đại hơn. Máy làm thay người nên người làm bún không còn vất vả như ngày trước. Đây là cơ hội để chúng tôi có thể phát triển hơn nữa nghề truyền thống của làng. Ngày nay, bún Vân Cù không chỉ nổi tiếng ở trong tỉnh mà khắp cả nước. Những người con của làng Vân Cù dù đi đâu xa vẫn nhớ về quê cha đất tổ với món ăn dân dã nổi tiếng cùng niềm tự hào về một làng nghề được ghi vào lịch sử”.
Về cơ bản bún, mì sợi, bánh phở, bánh đa, miến hay hủ tiếu đều sử dụng tinh bột của ngũ cốc, chủ yếu là gạo tẻ, có quy trình làm bột và ra thành phẩm gần tương tự nhau. Tuy vậy, giữa chúng ít nhiều có sự phân biệt nhất định theo thành phần nguyên liệu hoặc phương thức chế biến: Bún được làm thủ công, sử dụng tinh bột gạo tẻ, sợi có tiết diện tròn, mềm. Mì sợi dùng tinh bột gạo tẻ hoặc bột mì, đôi khi kết hợp với một số nguyên liệu khác như trứng (mì trứng); được cắt sợi vuông hoặc sợi tròn nhỏ và thường được phơi khô. Bánh phở dùng tinh bột gạo tẻ, tráng mỏng và cắt thành sợi dài. Bánh đa có cách làm gần tương tự như bánh phở nhưng có thể kết hợp với cả bột đao, và thành phẩm thường được phơi khô; có loại bánh đa như bánh đa cua dùng bột gạo kết hợp với thịt cua, phơi khô. Miến có sợi tiết diện hình vuông nhỏ, thường làm từ bột đao, bột dong, phơi khô thành phẩm. Một sản phẩm khác, thịnh hành tại miền Nam Việt Nam, gần tương tự như bún là món hủ tiếu, tuy có sợi nhỏ, dai và dài nuột hơn sợi bún.


 
1.2. Thuyết minh quy trình:
1.2.1. Nguyên liệu gạo:
Nguyên liệu dùng để sản xuất bún là gạo tẻ. Cần lựa chọn gạo tẻ loại tốt đảm bảo các yêu cầu sau:
Gạo tẻ ngon, không bị mốc, không có sâu, mọt, tỷ lệ tạp chất dưới 0,1%.
Trước khi đưa vào sản xuất, gạo cần phải được sàng sẩy để loại bớt một phần tạp chất nhẹ và cát sỏi, sau đó đem vo, đãi kỹ bằng nước sạch. Sau khi làm sạch, nguyên liệu (gạo) phải không còn lẫn tạp chất nhất là kim loại, đá sỏi, cao su...
 
1.2.2. Ngâm:
Gạo sau khi làm sạch được ngâm trong nước sạch khoảng 3 giờ. Sau giai đoạn này, gạo sẽ được làm mềm nhờ hút được một lượng nước nhất định để khi xay bột sẽ mịn và dẻo hơn. Cần phải dùng đủ lượng nước để ngâm ngập toàn bộ khối gạo.

1.2.3. Nghiền ướt (xay):
Quá trình nghiền có thể được làm bằng tay bằng cách cho một muỗng gạo đã ngâm và một muỗng nước sạch vào cối nghiền, nghiền đến khi gạo mịn và tạo thành dịch bột trắng. Công đoạn này có thể được cơ giới hoá để tiết kiệm thời gian và tăng công suất bằng cách sử dụng máy nghiền 2 thớt kiểu đứng hoặc nằm. Gạo được nghiền cùng với lượng nước vừa đủ qua lưới lọc 2.400 lỗ/cm2, tạo thành dạng bột mịn, làm cho bột dễ tạo hình, chóng chín và tăng độ dai cho sợi bún sau này.
 

1.2.4. Loại bỏ nước:
Giúp nhanh chóng chuyển từ dạng dung dịch bột loãng sau nghiền thành dạng bột ẩm, có thể nắn được thành cục. Quá trình làm ráo nước có thể thực hiện trong bể, thúng tre hoặc trong hộc gỗ có lót vải lọc.
 

1.2.5. Hồ hoá:
Khi xử lý nhiệt tinh bột trong nước đến nhiệt độ hồ hoá thì sẽ xảy ra hiện tượng hồ hoá tinh bột, là hiện tượng tinh bột hút nước, trương nở, tăng thể tích và khối lượng lên gấp nhiều lần.
Nhiệt độ hồ hoá của mỗi loại tinh bột khác nhau, phụ thuộc vào tỉ lệ của các cấu tử amylose và amylopectin cấu thành tinh bột, hình dạng và kích thước hạt tinh bột. Hạt tinh bột gạo có hình dạng đa giác hàm lượng amylose trung bình khoảng 17%, khả năng trương nở ở 95oC khoảng 19 lần, nhiệt độ hồ hoá của hạt tinh bột gạo khoảng 67 -78oC. Kết quả của quá trình hồ hóa, hỗn hợp tạo thành khối paste (dạng sệt) giống như gel.
Công đoạn hồ hoá được tiến hành như sau: Cho một nửa khối bột đã được làm ráo vào trong nồi nước đang sôi (lượng nước sôi sử dụng bằng với lượng bột cho vào). Trong quá trình nấu, cần khuấy đều và liên tục dịch bột đảm bảo cho khối bột được nấu kỹ. Quá trình nấu kết thúc khi dịch bột được hồ hoá hoàn toàn (dịch bột trở nên đặc, dẻo và trở nên trong hơn).

1.2.6. Phối trộn:

 

Dịch bột sau khi hồ hoá được làm nguội, sau đó được trộn với một nửa lượng bột còn lại. Quá trình phối trộn có thể được thực hiện bằng máy khuấy hoặc bằng tay.

1.2.7. Tạo hình:
Cho khối bột sau khi phối trộn vào khuôn bún. Khuôn bún có dạng hình trụ tròn hoặc dạng hình chữ nhật, mặt đáy bịt tấm lưới có nhiều lỗ nhỏ, đường kính của lỗ thường là 3 mm. Dùng lực ép khối bột trong ống xuống sao cho các sợi bột đi qua lỗ lưới càng dài càng tốt.
Việc tạo hình là lợi dụng tính chất tạo sợi của tinh bột. Các sợi tinh bột sau khi hồ hóa có khả năng tạo sợi khi được ép qua một khuôn có đục lỗ.

1.2.8. Nấu:

 

Khuôn thường được đặt bên trên nồi nước đang sôi để sợi bột sau khi qua lỗ lưới được nhúng ngay vào nồi nước đang sôi bên dưới. Khuấy tròn nước trong nồi theo một chiều trong lúc nấu để tránh hiện tượng các sợi bún rối và dính vào nhau. Thời gian nấu khoảng 1 phút. Quá trình nấu nhằm mục đích cung cấp nhiệt cho các phân tử tinh bột trong khối bột (đặc biệt là các phân tử tinh bột chưa được hồ hoá trong công đoạnn trước) hút nước, trương nở và hồ hoá (làm cho sợi tinh bột chín hoàn toàn). Trong nước sôi, sợi bún tách rời nhau, ổn định cấu trúc sợi và làm chín tinh bột.

1.2.9. Làm nguội:
Sợi bún sau khi nấu phải được vớt ra và làm nguội ngay bằng nước nguội sạch. Làm nguội nhằm làm các sợi tinh bột sắp xếp lại và ổn định tính chất tạo sợi của chúng, điều này giúp cho sợi bún được dai hơn. Quá trình làm nguội phải nhanh nhằm ngăn chặn hiện tượng hồ hoá tiếp tục của sợi bún, gây ra hiện tượng thoái hoá mặt ngoài sợi tinh bột tránh làm sợi bún bị mềm và dễ gãy. Sau khi làm nguội và làm ráo, ta thu được bún thành phẩm. Thông thường 1kg gạo làm ra được 3kg bún.
1.2.10. Thành phần dinh dưỡng của bún:
Bún là loại thực phẩm cung cấp nguồn tinh bột cho con người. Tinh bột có vai trò dinh dưỡng đặc biệt quan trọng vì trong quá trình tiêu hoá, tinh bột bị thuỷ phân thành đường glucose - là chất cung cấp nguồn năng lượng (calo) chính cho hoạt động sống của con nguời. Ngoài ra, trong bún còn chứa một lượng đáng kể các vitamine nhóm B và khoáng chất (đặc biệt là calcium và sắt).

Thành phần
Đơn vị
Tính trên 100g
Năng lượng
Kcal
112
Nước
g
72,0
Protein tổng số
g
1,7
Glucid tổng số
g
25,7
Cellulose
g
0,5
Tro
g
0,1
Calcium (Ca)
mg
12,0
Phosphor (P)
mg
32.0
Sắt (Fe)
mg
0,2
Vitamine B1
mg
0,04
Vitamine B2
mg
0,01

Phân loại bún theo hình thức bên ngoài:
Bún rối
Bún rối là loại bún sau khi được vớt ra khỏi nồi nước tráng, được để trong thúng một cách tương đối lộn xộn không có hình thù khối rõ rệt. Bún rối là loại tương đối phổ biến và thích hợp cho nhiều món ăn, đặc biệt là các món bún nước.
 
Bún vắt
Bún vắt hay bún lá: các sợi bún được vắt thành từng dây có đường kính độ 4-5mm, dài cỡ 30-40cm. Khi ăn các lá bún này được cắt thành từng đoạn ngắn. Thích hợp cho một số món bún dạng chấm như bún đậu mắm tôm, bún chả.
Bún nắm
Bún nắm là các sợi bún được nắm thành từng bánh nhỏ, bẹt. Ít phổ biến hơn hai loại bún nói trên.

2. Bún Ốc:
 

2.1. Nguồn gốc:
Trong muôn vàn hương vị phong phú của các món ăn, món bún ốc vẫn tạo được một sắc thái riêng và đã thực sự đạt đến "cái đích ăn ngon” của người Hà Nội. Không ai cắt nghĩa được món bún ốc xuất hiện từ bao giờ và tại sao nó lại được hợp thành từ những thứ rất đỗi quê mùa như con ốc, ngọn rau, bỗng rượu... Phải chăng những món ngon quê mùa, mộc mạc đã đi xuyên suốt lịch sử. Có người nói bún ốc có nguồn gốc ở dưới làng Thanh Trì, nhưng cũng có người nói làng Quảng Khánh, nằm trên một bán đảo nhô ra Hồ Tây, mới là cái nôi sinh ra thứ đặc sản ấy cho mảnh đất Thăng Long ngàn năm văn hiến truyền đời, nhưng kì thực quê hương của nó lại là làng Hương Thượng (thuộc Hà Nội). Người truyền nghề cho mọi người là một bà dòng dõi cao sang ở ẩn. Bà đẹp đến nổi không ai xứng với bà nên bà sống độc thân. Bà họ Đỗ được coi như là Tổ sư của món ăn đặc sản bún ốc.
Từ những gánh bún ốc nhỏ bé của các bà, các cô thắt khăn vấn đi bán rong trên khắp các ngõ ngách của Hà Nội xưa, đến nay đã có cả những cửa hàng bề thế. Chính ở vùng đất này, bún ốc đã đạt đến độ thăng hoa nhất và trở thành một món quà độc nhất vô nhị của người Hà Nội. Những sợi bún trắng tinh, những con ốc béo ngậy xen lẫn với màu đỏ của cà chua, màu vàng của dấm bỗng và màu xanh của những dọc hành lá khiến cho thực khách chỉ nhìn thôi cũng đã đủ thấy ngon miệng. Bún ốc có thể ăn cùng với một chút ớt chưng mỡ, một chút mắm tôm và rau sống cho vừa miệng.
Nhắc đến bún ốc, người ta thường nghĩ ngay tới một món ăn nóng hổi, thơm ngon và rất Hà Nội. Nhưng nếu bạn có thời gian đi qua những con phố nhỏ như Ô Quan Chưởng, Nguyền Trường Tộ, Hàng Chiếu hay phố Nguyễn Cao, các bạn sẽ bắt gặp và thắc mắc khi thấy những gánh hàng nhỏ của các cô, các bà với một bên là chum nước dùng, một bên là thúng bún trắng tinh, những con ốc được xếp gọn gàng và kèm theo một vài thứ gia vị. Đó chính là mónbún ốc nguội, một nét đẹp trong đời sống ấm thực của người dân Hà thành xưa.
Bún ốc nguộihay còn gọi là bún ốc lạnh, sở dĩ có tên gọi như vậy là vì những nguyên liệu để tạo nên hương vị đặc biệt của món ăn đó đều nguội từ ốc nguội, nước dùng nguội và bún cũng nguội. Không giống như bún ốc nóng cầu kì, bún ốc nguội mang trong mình sự giản dị, không hành lá, không rau thơm, không có màu đỏ của cà chua, chỉ có bún, ốc và nước chấm. Nhưng món ăn dân dã này lại đi vào lòng người một cách khác lạ.

2.2. Nguyên liệu:
- Xương heo
- Ốc nhồi béo
- Hành tím, me chín, ớt tươi, giấm bỗng
- Cà chua, rau thơm
- Gia vị, muối vừa đủ.
Chuẩn bị ít nước dùng xương heo (hầm 300g xương heo với 2,5 lít nước + 100g hành tây + 2 muỗng cà phê muối, hầm lấy non 2 lít nước dùng, lược qua rây, vớt bỏ xác xương, hành). Chuẩn bị ít hành tím cắt lát mỏng phi vàng; hành lá cắt nhỏ; 150g me chín nấu với 1/3 lít nước cho tan, lược lấy nước chua. Ớt tươi băm nhuyễn, xào chín với ít dầu, nêm vào ít nước me cho hỗn hợp có vị chua ngọt nhẹ.

2.3. Cách chế biến:
 
 
- Làm ốc, lấy nước vo gạo vừa đủ ngâm lượng ốc muốn làm, ngâm ốc qua 12 giờ cho ốc nhả sạch đất bùn vớt ra rửa sạch lại, chặt bỏ trôn ốc, cạy miệng, moi lấy nạc, gỡ bỏ mày ốc, nặn bỏ phần ruột phân... Cho muối bọt vào ốc, nhồi nhẹ tay, xả lại nhiều lần nước lạnh qua một cái rổ thưa cho nạc ốc thật sạch nhớt, để ráo.

 
- Trộn ướp khoảng 500g nạc ốc với: 2 muỗng xúp nghệ tươi giã nhỏ (hoặc 1 muỗng xúp bột nghệ khô) + 1 muỗng xúp nước mắm ngon + 1 muỗng cà phê muối + 1 muỗng xúp gừng non băm + 2 muỗng xúp mỡ nước (món ăn sẽ đậm đà hơn là dùng dầu ăn) + 1 - 2 muỗng giấm bỗng hoặc giấm nuôi (gia giảm theo khẩu vị), để qua 20 phút, phi thơm 3 muỗng xúp dầu hoặc mỡ nước với 1/2 muỗng xúp hành tỏi băm, cho ốc vào xào nhanh tay ốc mau chín, đừng xào lâu ốc sẽ dai.
- Làm nước dùng giấm chua với cà chua: 500g cà chua chín, rửa sạch, ngắt cuống, chẻ dọc làm 8. Làm nóng 2 - 3 muỗng xúp mỡ nước hoặc dầu, cho cà chua vào xào chín mềm, châm nước dùng vào sấp mặt hỗn hợp, nêm lại với nước me, muối đường tùy khẩu vị nhưng phải có vị chua nhiều... Nấu nhỏ lửa cho mềm cà, cho vào ít hành lá cắt nhuyễn. Giữ nóng nước giấm trên bếp. Chuẩn bị bún tươi, rau thơm các loại như tía tô, húng cay, húng lủi, kinh giới, mùi gai... Nước mắm nguyên chất cho thêm chút gừng băm, chanh hoặc tùy ý pha loãng theo khẩu vị riêng, nêm cay bằng ớt xào chua.

2.4. Văn hóa thưởng thức:
Bún Ốc nguội sẽ không còn là bún ốc nguội nếu không ăn kèm với bún lá. Không ai lại ăn ốc nguội với bún rối cả. Bún rối chỉ dùng với bún ốc nóng mà thôi. Nếu làm ngược lại, chúng ta đã đánh mất đi sự hòa hợp của tự nhiên, của đất trời rồi! Những lá bún nhỏ, trắng ngần, khi đưa vào đến đầu lưỡi thấy vị mát lạnh, dẻo thơm. Đặc biệt, bún ốc nguội không bao giờ ăn kèm cùng rau thơm. Chỉ có bún, ốc và canh mà thôi. Nếu có rau thơm, món ăn không còn là nó nữa. Mùi thơm gắt của rau thơm sẽ át hết mùi thơm dịu của giấm bỗng.
Ốc luộc hoặc hấp ở nhiệt độ thích hợp sẽ thơm, giòn, mềm, béo. Nếu không sẽ dai, con ốc săn lại là hỏng. Cô hàng bún ốc, với bàn tay búp măng, cầm cái búa nhỏ nhọn như dùi, bốc gạt yếm ốc, gõ nhẹ vào con ốc trở tay trôn ốc… thế là con ốc và cả ruột cùng sáp tuột ngay xuống chiếc bát con. Nước dấm gồm nước luột ốc, nước bỗng rượu, cà chua hoặc quả dọc, mỡ nước, ớt bột, ớt tươi thái thật nhỏ… Muốn cho thật cao kiến có thể cho thêm mì chính, sá sùng (đỉa biển). Liều lượng pha chế phải rất tài tình, chỉ sai một ly là đi một dặm. Bột làm bún gồm một phần gạo tám thơm, một phần tám xoan và một phần gạo tẻ, hạt dài. Bún dùng cho bún ốc là loại có độ mịn không cao để nó có thể hấp thụ nhanh chóng những chất ngọt, béo, cay, chua trong nước dấm. Làm bún ốc phải có sự tổng hợp của nhiều sự hiểu biết. Con ốc nguyên hình đã có nhiều màu sắc. Chậu nước dấm váng mỡ có sự oha màu của nhiều mảng ớt nhỏ gồm nhiều cung bậc của màu đỏ, vàng. Màu sắc của nhiều loại ớt có thể nói lên tính tình của chúng. Nhất là cái bát hương ở giữa là nước dấm cốt và tập trung ớt có tác dụng điều chế bát dấm mà nhà hàng đưa cho khách. Những điều này rất cầu kì và có lí lẽ.
Người ta nếm thử đầu ốc và nhai ngấu nghiến. Đó là một loại sụn giòn tan. Cứ là mồm nhai, tai nghe. Người ta nhai va vô cùng sung sướng là mình còn một hàm răng chắc chắn, sung sướng, tận hưởng được cái ngon của đầu ốc. Thân ốc thì mềm, ngọt chan chứa và dịu dàng như một sự ve vuốt đến tỉnh người.
Miếng sáp màu vàng thẫm lại bùi. Nó trung hòa cái béo ngậy hơi quá mức. Nhà hàng múc một môi nuớc dấm thêm vào để con ốc béo mẩy được ngâm mình trọn vẹn. Khách ăn lấy thêm bún cho chìm vào nước dấm rồi ăn tất cả vào một miếng. tất cả cộng lại tạo ra một miếng ngon đến say sưa và liền ngay đó là sự chua cay đến cực độ. Nhưng lại càng dễ chịu. Khách ăn chảy nước mắt giàn giụa, thấy như mình ở trạng thái "ốp đồng”. Trong miếng ăn có đủ chua, cay, mặn, chát, béo, giòn, ngọt.. Đó cũng là tất cả những giây phút cuộc đời của con người đang tập hợp lại với nhau. Không có món ăn nào lại đầy đủ chất đời như bún ốc. Lại nói trước đây: sáng, trưa, chiều, tối khuya, các chị em khách làng chơi và các quan viên ở Vạn Thái, Ngã Tư Sở, Khâm Thiên…. Là những khách hàng say sưa và trung thành nhất với món bún ốc. Họ ăn để quên đi mọi sự đắng cay, cô đơn nhưng lại nhấm nháp chúng và khóc đời, khóc các thân phận bằng nước mắt của chính mình rồi lại đổ thừa cho ớt cay gây nên.
Nét tinh tế trong ẩm thực của người Hà Nội được thể hiện qua cách chế biến cầu kỳ và tinh tế từ những món ăn tưởng chừng bình dị cho đến những món cao lương mỹ vị, không chỉ vậy, con người đất Hà thành còn coi trọng việc thưởng thức món ăn nữa. Bún ốc nguội không được ăn nhiều, ăn để thỏa mãn cơn đói, cơn thèm mà chỉ thưởng thức ít thôi để mà xuýt xoa, nhớ tiếc. Gánh hàng bún ốc nguội chỉ có ở một vài nơi như Ô Quan Chưởng, phố Nguyễn Cao… nhưng không bao giờ vắng khách. Những người Hà Nội dù đi xa vẫn nhớ đến gánh hàng bún ốc nguội và thầm mong có ngày trở về để thưởng thức một món ăn dân dã, bình dị nhưng mang đậm hồn dân tộc.

2.5. Cơ sở khoa học:
Thành phần dinh dưởng của bún ốc chủ yếu là từ bún và thịt ốc.
Theo quyển " Thành phần dinh dưỡng thức ăn Việt Nam, của Viện dinh dưỡng thuộc bộ Y tế” thì ốc bươu có thành phần dinh dưỡng như sau:

Thành phần
Lượng trên 100g
- Năng lượng
- Nước
- Protein tổng số
- Lipid
- Glucid tổng số
- Calcium
- Phosphor
- Tro
35,9 g
76,8 g
11,1 g
0,7 g
8,3 g
1310 mg
64 mg
3,1 g

Độ ngọt của thịt làm tê lưỡi. Độ ngọt của ốc mềm mại, dễ chịu và đầy hương phấn nhẹ nhàng gọi là ngọt lừ. Loại protide ở ốc là loại nhuyễn thể có cả chất potenciator là chất nâng thế năng của độ ngọt. Vì vậy mà nước luộc ốc rất ngọt, tạo vị ngọt đặc trưng cho món ăn.

3. Bún thang:
3.1. Nguồn gốc:
Một món quà bún khác tuy không phổ biến như món Bún Ốc ở trên nhưng nó vẫn được liệt vào danh sách những món ngon đặc sản của người Hà Nội, đó là món Bún thang.
Sở dĩ bún có tên Bún Thang là ý nhấn mạnh nước dùng. "Thang” trong theo tiếng Hán – Nôm có nghĩa là canh. Bún thang tức là canh bún, tên bún thang là để nhấn mạnh phần "thang” là phần chính tạo nên cái hồn, cái đặc trưng của bún. Nước súp bún thang có vị ngọt rất tự nhiên từ xương gà hay heo, tôm he chứ không phải do bột ngọt hay hạt nêm. Nước súp bún thang phải thật trong với lớp mỡ vàng trên bề mặt. Không những vậy nước dùng bún thang còn được thêm vào một thành phần mà không ít người đã ví như một ma thuật, một cách "làm dậy hồn” món bún thang.
Trước đây, bún thang vốn là một món ăn quý, chỉ được làm vào những dịp lễ tết nhưng ngày nay nó đã được bình dân hoá để ngày càng có nhiều người được dịp thưởng thức món ăn tinh tế này. Song, dù cao sang hay dân dã thì "hồn xưa bóng cũ” và cả cái hương vị độc đáo mê hồn của món bún thang vẫn chẳng thể đổi thay, vẫn làm hài lòng đến cả những thực khách khó tính nhất. Bởi vậy mới nói, con người ta có thể quên ngay cảnh sắc mà mình đã đến nhưng không thể quên ngay cái hương vị của những món ăn mang đậm đà bản sắc của một địa phương. Để rồi đã có bao nhiêu du khách đến với Hà Nội, thưởng thức món bún thang và mang theo dư âm của món ăn về nơi xa ấy suốt đời.

3.2. Nguyên liệu:
- 300 g sườn heo.
- 1 con gà khoảng 1kg 200g.
- 200 g chả lụa.
- 200 g tôm khô.
- 3 trứng hột vịt.
- 3 kg bún.
- Nước mắm, muối, bột ngọt, mắm tôm, cà cuống.
- Rau răm, ngò, củ hành
So với các món quà bún khác thì cách chế biến món bún thang quả là có chút công phu hơn và vẫn còn phảng phất trong đó nét vương giả xưa kia. Mỗi một tô bún thang có đến khoảng gần 20 loại nguyên liệu. Một rúm bún sợi nhỏ đơm vào bát rồi rắc rau răm, mùi tàu xanh ngát lên trên nền bún trắng. Kế đến là gà nướng xé phay, giò lụa, trứng tráng thái sợi, nấm hương, tôm bông... cuối cùng thả một hai lòng trứng muối đỏ vào giữa lòng bát bún và chan nước dùng "nóng rẫy” cho thật vừa ăn. Bún thang có thể ăn kèm với các gia vị như tỏi, tiêu, dấm, ớt hoặc thêm một chút mắm tôm nhưng nó sẽ mất hẳn đi mùi thơm đặc biệt nếu ta không thêm vào trong đó một chút tinh dầu cà cuống. Tất cả các nguyên liệu, các gia vị dường như đã hoà quyện vào nhau, tô điểm cho nhau tạo nên một bức tranh quê lụa muôn sắc, muôn màu đến độ làm nao lòng người đa cảm.

3.3. Cách chế biến:
Giai đoạn 1: Nấu nước dùng.
- Gà làm sạch: Đổ 3 lít nước lạnh vào nồi, cho ít củ hành xắt lát mỏng và 1 chút muối vào, đun nước hơi nóng, thả gà vào. Luộc gà cho chín, vớt gà ra, xé nhỏ thành sợi.
- Cho sườn heo vào nước luộc gà, nấu cho sườn thật mềm mới lấy được nước dùng, khi nấu nhớ hớt bọt.
- Cho 1/3 tôm khô vào nồi nước dùng để nước ngọt.
- Khi nước dùng đã được, đem xuống dùng rây lọc kỷ nêm nước mắm, muối, bột ngọt vừa ăn.
- Chả lụa: thái mỏng xắt sợi. Hột vịt tráng mỏng xắt sợi.
- Tôm khô còn lại ngâm nước độ 10 phút cho hơi mềm rửa sạch, đem giả nát chà cho bông.
- Rau răm + hành ngò, xắt nhỏ để riêng.
Giai đoạn 2: Trình bày
- Lót rau răm xuống dưới tô, sắp bún lên trên bày thịt gà, tôm khô, chả lụa, trứng tráng, mỗi thứ 1 góc, hành ngò để giữa.
- Khi ăn đun nước dùng cho thật sôi, dội lên trên tô bún cho 1 ít mắm tôm. Món này ăn nóng mới ngon, nếu ăn được nên cho thêm một ít dầu cà cuống càng ngon.
- Nấu nước súp: xương heo, gà, tôm he được nấu dưới lửa nhỏ trong thời gian dài, trong quá trình nấu, protein trong tủy xương và thịt tôm sẽ bị thủy phân thành acid amin, các acid amin này sẽ tan vào trong nước tạo mùi thơm và vị ngọt thịt. Mặt khác, lipid và một số thành phần không tan sẽ kết lại và nổi lên trong bọt, muốn thu được nước dùng trong cần hớt bỏ bớt bọt tạo ra khi nấu.
- Trứng: trứng phải được tráng thật mỏng và không cần ướp thêm gia vị nào. Để trứng ngon xốp hơn có thể pha thêm ít rượu và dùng mỡ gà chiên trứng.
- Trứng vịt đánh tan, không nêm nếm, đổ tráng thật mỏng, để nguội đến khô dai, cắt sợi nhỏ.
Kỹ thuật tráng trứng:
- Dùng chảo đáy phẳng đường kính chừng 25 – 30 phân, có chảo không dính càng tốt.
- Bếp Bắc xưa chỉ dùng trứng vịt, trứng gà không ngon bằng. Đánh thật tan trứng, không nêm nếm gia vị.
- Dùng một cái vá vừa đủ để lường một lượng trứng cho vào chảo là vừa đủ láng một lớp trứng càng mỏng càng tốt.
- Canh lửa vừa nóng ấm chảo, có thể chạm nhẹ tay vào chảo mà không phỏng.
- Dùng một cái cọ mỏng sạch, nhúng dầu ăn hoặc mỡ gà nước (thắng ra từ mỡ gà tươi) quét lên đáy chảo một lớp mỏng dầu hoặc dùng đũa gắp một miếng mỡ gà tươi chà nhanh vào chảo để vừa đủ láng chảo.
- Đổ vá trứng vào chảo, cầm quai chảo đảo thật nhanh để trứng láng đều một lớp lên đáy chảo. Thao tác cần thật nhanh, gọn chỉ trong vài giây. Để qua mươi lăm giây nữa cho khô mặt trên rồi lóc gỡ trứng trở mặt cho chín mặt dưới. Cần phải thực hành nhiều lần để thuần thục động tác. Mỗi miếng trứng chỉ tráng trong khoảng 3 - 4 phút là nhiều. Lóc trứng ra, vắt lên thành rổ rá, khay mâm…để qua 2 giờ, trứng sẽ rất dai, sẵn sàng để cắt sợi.
- Sau khi đổ một hai miếng trứng lại làm láng chảo bằng dầu mỡ. Bếp Bắc truyền thống chỉ dùng mỡ gà tươi để láng chảo đổ trứng cho nên trứng luôn có mùi thơm mỡ gà rất nhẹ nhàng.
Phụ gia:
- Củ cải trắng cắt sợi cỡ thân đũa, ngắn chừng 3 phân, phơi nắng cho tóp lại còn bằng 1/3, ướp trộn nước mắm nêm muối đường vừa miệng với chút tỏi ớt vừa đủ cay nhẹ, thơm tỏi… Lượng nước mắm chỉ cần vừa đủ thấm ướt cải, để qua hai ngày là dùng được.
- Ngò, rau răm, hành lá cắt nhỏ. Cần có rau răm để làm dậy vị thịt gà.
-Nước mắm, mắm tôm, cà cuống, chanh ớt.
- Bún sợi nhỏ. Trụng bún với nước sôi có gừng nếu thích.
Trình bày món ăn: Chia bún vào tô, sắp thịt gà, chả, trứng, tôm chà bông…mỗi thứ một ít lên mặt tô bún cho đẹp mắt với một hai tai nấm đông cô, hành răm để chính giữa, chan nước dùng thật nóng vào.

3.4. Văn hoá thưởng thức món ăn:
Bún được chọn phải là loại bún rối trắng tinh, sợi nhỏ còn phảng phất hương thơm của lá chuối bọc bên ngoài. Thịt gà phải là loại gà ta, thịt mềm và ngay công đoạn thái miếng thịt gà cũng chẳng đơn giản tẹo nào. Bởi lẽ thịt gà phải được xé thật nhỏ, có đủ da đủ thịt, vàng xen ngà ngà mờ ảo. Rồi đến giò lụa cũng phải được chọn kĩ lưỡng, giò phải trắng hồng, mịn mặt, rồi đem thái chỉ trông như những chiếc tăm nhỏ xinh đều tăm tắp í. Cầu kì hơn thì có công đoạn tráng trứng, trứng phải tráng sao cho mỏng tang như tờ giấy mà không bị rách rồi cũng đem thái thật nhỏ để nhìn như những sợi tơ hồng vương trên bát bún, thế mới được coi là chuẩn. Bên trên bát bún còn có củ cải khô dầm chua ngọt và món "ruốc tôm” được giã nhỏ từ tôm nõn hay tôm he nữa.
Tất cả sẽ được các bà, các mẹ xếp đặt một cách trật tự với các màu xen lẫn nhau thật đẹp mắt. Bên cạnh màu vàng tươi của trứng có màu hồng hồng của ruốc tôm. Bên cạnh màu trắng hồng của giò lụa lại là vị xanh của hành răm xen lẫn những sợi thịt gà ngà ngà. Trong sắc lại có vị, trong vị lại cảm nhận thấy sắc, bát bún thang ngon khơi dậy cả khứu giác lẫn thị giác của người thưởng thức. Sẽ thật thiếu sót nếu không kể đến những thứ gia vị đi kèm theo món ăn này. Thứ gia vị được coi là "nét duyên thầm” của bát bún thang, đó chính là mắm tôm. Còn có người gọi đùa rằng "bún thang không mắm tôm như ăn phở mà chẳng có nước dùng” vậy đó! Và tất nhiên, nhắc đến bún thang thì không thể không nhớ đến tinh dầu cà cuống được xem như linh hồn của món ăn bởi cái vị thơm rất đặc biệt của nó. Chỉ cần một đến hai giọt cà cuống vào trong bát bún thôi là người thưởng thức đã bị quyến rũ ngất ngây cho đến những miếng cuối cùng rồi. Nhưng chỉ tiếc rằng, ngày nay, cùng với sự dần tuyệt chủng của con cà cuống thì cái hương vị đặc biệt đó đã dần dần trở nên vắng bóng trong bát bún thang của người Hà thành làm bao người phải ngẩn ngơ tiếc nuối đã con mắt!.
Nếu nói như Vũ Bằng nhìn bát phở cho ta cái cảm giác của bức họa lập thể thì quan sát tô bún thang cho ta cái cảm giác đang được ngắm bức tranh phong cảnh trong trẻo của Công Stêbơn, mà ở đó những mảng màu nguyên chất được đặt gần nhau chứ không pha lẫn. Một ít rau răm mùi tàu xanh ngát, sau đó là các thứ nguyên liệu thực phẩm khác rải đều trên nền bún trắng. Một nhúm trứng tráng mỏng tang thái chỉ màu điệp, một chút lườn gà xé phay màu trắng ngà, kế đến là giò lụa thái sợi màu hồng nhạt, cuối cùng rắc tôm bông. ở chính giữa là lòng đỏ trứng mặn, xung quanh lác đác mấy lát lạp xườn đỏ viền miệng bát. Tất cả như một bông hoa mà nhụy là khoanh trứng màu vàng sẫm. Cuối cùng nước dùng nóng rẫy được chan thật vừa bát cho người ăn.

3.5. Cơ sở khoa học:
Nước dùng bún thang cũng rất bổ dưỡng có hàm lượng protein cao từ các loại thịt gà, thủy sản và thực vật. Các phụ liệu khác của bún thang cũng đa dạng và giàu dinh dưỡng (đầy đủ đạm, béo, chất xơ) nên có thể khẳng định bún thang là một món ăn giàu dinh dưỡng và thích hợp cho nhiều người.
Tuy nhiên hiện nay bún thang chỉ dừng lại ở mức độ là một món ăn đặc sản địa phương (chủ yếu ở Hà Nội và phía Bắc). Nguyên liệu làm bún thang tương đối dễ tìm, quen thuộc, lại có thành phần dinh dưỡng cao. Có thể thử nghiệm mở rộng thị trường bún thang ra nhiều vùng khắp cả nước cũng như giới thiệu cho bạn bè nước ngoài, giúp bún thang ngày càng được nhiều người biết đến và nổi tiếng hơn nữa.

 
4. Bún bò Huế:
4.1. Nguồn gốc:
Bún bò không có nguồn gốc ngoại lai. Bún bò là rất Việt Nam, rất "dân tộc”. Bún là tiếng nôm, không gốc gác họ hàng gì với tiếng Tàu cả. Bò là con bò, thịt bò, cũng là tiếng "nôm” không dính dáng gì tới "ngưu” là tiếng người Tàu gọi chung cả trâu lẫn bò. Miếng thịt bò ngênh ngang nằm trong tô bún thì gọi nó là thịt bò, không ai gọi nó là "ngưu nhục”.
Về bún bò thì đâu có riêng gì Huế mới có. Quảng Trị cũng có bún bò vậy, còn Quảng Bình thì sao? Qua khỏi đèo Hải Vân, bún bò Đà Nẵng trở thành một món ăn "lưu lạc” nơi xứ lạ quê người. Nó nằm thu lu một mình, lạc lỏng giữa đám mì Quảng ồn ào như ở hải cảng Đà Nẵng nhưng lại chẳng cô đơn khi vào tới thủ phủ miền Nam.
Sau này, món bún bò Huế đã theo chân người dân Huế tha phương khắp nơi; từ đó cũng dần thay đổi theo điều kiện sống của từng địa phương. Và sự dễ dãi về hoàn cảnh sinh hoạt cũng như sự phong phú về vật chất của đời sống hiện đại đã khiến món bún bò Huế có nhiều đổi thay. Tô bún ngày nay lớn hơn với miếng giò heo to và những lát thịt bò bự, đầy mỡ màng, nước bún lềnh bềnh gia vị và rau hành cũng nhiều hơn. Bún bò Huế vào đến Nha Trang, Đà Lạt đã được ăn kèm với các loại rau sống được xắt ghém; vào đến TP.HCM thì biến thành tô "phở bún” với nước béo, với thịt chả ê hề; trên đĩa rau sống những chiếc lá to, bự cũng xuất hiện thêm một số cọng giá sống suôn đuột, dài ngoẵng…

4.2. Nguyên liệu:
1 kg xương đuôi bò chặt khúc, 1 cái giò heo trước, 1 bó sả, 1/2 kg thịt bò nạm, 3 lít nước, 1/2 cà phê muối, 1 chả lụa, 2 muỗng súp mắm ruốc, 2 củ hành tây, 1 cà phê ớt bột, 1 muỗng súp bột hột điều, 1 bó nhỏ hành lá, 1 bó ngò gai, 1 bó rau quế, 1 bắp chuối, giá, chanh, 1 gói bún lớn , 1 bó rau muống cọng.

4.3. Cách chế biến:
- Bắt nồi nước lên bếp nấu cho sôi, rồi thả xương, giò heo, thịt nạm, 2/3 bó sả, muối vào. Chờ đến khi nước sôi trở lại thì hớt bọt cho kỹ để tránh làm hôi nước lèo. Sau khi vớt hết bọt, vặn lửa nhỏ lại, để lửa riu riu hầm cho thịt chín. Nhớ canh thịt đừng để rục không ngon, thịt giò heo chín trước, vớt ra ngâm vô thau nước +1/2 muỗng cà phê muối ngâm để thịt không bị đen. Kế đến thịt nạm chín cũng vớt ra và ngâm vào thau nước muối. Hầm tiếp xương đuôi bò cho chín tới, vớt sả ra bỏ rồi nêm mắm ruốc lượt qua rây, 1 muỗng cà phê đường, 2 muỗng súp nước mắm, nêm cho vừa ăn.
- Bún đem luộc chín để ráo.
- Bắt chảo dầu nóng, cho 1/3 sả còn lại bầm nhuyển vào xào cho thơm, kế cho ớt bột, bột hột điều vào xào rồi đổ qua rây vào soong nước lèo + 1/2 hành xắt nhuyển + 1/3 ngò gai xắt nhuyển vào.
- Củ hành xắt khoanh mỏng , 1/2 hành lá còn lại cũng xắt nhuyễn, Thịt giò hao & thịt nạm vớt ra cho ráo nước rồi cho vào nồi nước lèo. Khi nào gần ăn thì vớt ra xắt mỏng.
- Chả lụa xắt lát mỏng.
- Bắp chuối xắt nhuyễn ngâm vào thau nước có pha nước chanh để được trắng
- Rau muống cọng bào nhuyển ngâm vào thau nước rửa sạch
- Rau quế , tía tô, húng lủi, giá rửa sạch để ráo
- Chanh xắt miếng.
- Ớt xắt lát
Trình bày:
Để bún ra tô, trên để vài lát thịt giò heo, thịt nạm, chả lụa, hành lá, hành củ. Chế nước lèo đang sôi lên trên mặt cho ngập bún. Ăn kèm với giá, rau quế, chanh, bắp chuối, rau muống chẻ. Nếu cần ăn cay thì cho thêm ớt chèo.

4.4. Văn hóa thưởng thức món ăn:
Ôi chao mê lắm bún bò ơi.
Ngồi " quất " hai tô sướng đã đời !
Gân nạc thái thăn ăn thích quá
Thịt giò hầm kỹ xực mê tơi
Cong cong bao cọng bún tươi trắng
Lấm chấm chút màu ớt đỏ ngời
Đặc sản bình dân người xứ Huế
Quá ngon thấy bán khắp nơi nơi!
Bún bò Huế là một trong những đặc sản của xứ Huế, mặc dù món bún ở đâu cũng có. Trong nước dùng của bún, người Huế thường nêm vô một ít mắm ruốc, góp phần làm nên hương vị rất riêng của nồi bún bò Huế. Sau khi xương bò được hầm chín tới, người ta thường thêm vào một ít chả heo hay chả bò được quết nhuyễn. Thịt bò có thể được xắt mỏng, nhúng vào nước dùng đang sôi trước khi cho vào tô bún (gọi là thịt bò tái). Người ta cũng thường cho thêm một ít ớt bột và gia vị vào tô bún rồi ăn với rau sống gồm giá, rau thơm, xà lách, rau cải con, bắp chuối xắt nhỏ.
Sở dĩ bún bò Huế được đánh giá cao vì hội tụ được hai yếu tố "thập toàn, ngũ đắc”. "Thập toàn” là mười điều cần có để tạo nên một món ăn ngon: ngọt ngào, đậm đà, thơm tho, bổ dưỡng, tinh khiết, bắt mắt, khéo chọn, khéo tay, khéo nấu và khéo bày. "Ngũ đắc” là ai cũng biết, ai cũng mua được, ai cũng ăn được, ai cũng nấu được và ai cũng mua được nguyên liệu ngay tại địa phương. Thế thì tại sao lại có tên là bún bò Huế? Vì món bún bò Huế, ngoài hai đặc tính phổ thông và dân dã đó, còn chứa đựng những tính chất "rất Huế”, những mâu thuẫn theo "kiểu Huế”. "Kiểu Huế” là nghèo mà vẫn sang, vui rộn rã nhưng vẫn man mác buồn; tên đất thì nhỏ, ngắn nhưng tên người thì dài, lại chứa đựng những hoài bão lớn lao… khi trộn lẫn hai tính chất đầy mâu thuẫn "bò nấu thì teo, heo nấu thì nở” và "bò nổi, heo chìm” thành một thể hài hòa. Và, hình như mọi người càng đem lý tính để phân tích hương và vị của món bún bò Huế, thì sự hiểu biết về món ăn này càng… bay xa.
Tô bún bò Huế mới thoạt nhìn, có vẻ đạm bạc và thanh lịch như chiếc áo dài phin trắng nõn nà. Tô bún chỉ lớn hơn bàn tay búp măng xoè ra một tí. Nước bún trong để lộ những tép bún trắng nằm sóng soãi vươn lên miệng tô. Nước bún không mỡ màng, không bị vẩn đục vì gia vị. Vài loáng ớt màu đỏ nhạt, quyện với dầu sả nổi đốm sao trên mặt tô không che được miếng giò heo búp, mỏng bằng hai phần lóng tay. Miếng giò heo trắng ngả màu vàng với lớp da mỏng, ôm khoanh thịt nạc và mảnh xương tròn ở giữa như nhụy hoa nằm bắt mắt và mời gọi, nửa chìm nửa hở trong tô bún. Che mái cho tô bún là ba bốn lát thịt bò bắp xắt mỏng, những lát bò bắp với thớ thịt chắc nịch nâu đỏ và những đường vân vàng nhạt của nạm, gầu, gân, sách.
Trên bàn đã có sẵn đũa tre, muỗng sành, nước mắm, ớt tương và rau hành, chanh múi. Một dĩa nhỏ hành củ trắng phau và hành lá, rau thơm xanh mưót điểm thêm ngò ta xắt mỏng để rắc lên mặt tô bún cho thêm nồng nàn hương vị. Rau hành của bún không phải là rau sống cuả phở, rau chỉ đóng vai trò "nước hoa” cho tô bún. Trên một góc dĩa là ớt tươi xắt lát. Cái cay của ướt tươi là đậm đà, mọng nước, đủ sức khống chế những cao thủ ớt đã nếm đủ vị giang hồ mà vẫn còn thấy nhạt. Cạnh đó là dĩa ớt tương nhỏ xíu màu huyết dụ; ớt tương của bún bò Mụ Rớt cũng được liệt vào hàng "gia vị bún bò bắc đẩu", nhìn thì có cái vẻ mềm như nhung với màu đỏ sẫm, điểm những hột ớt vàng hoe nhưng nếm vào mới biết thế nào là cái "hiền” của Huế. Gắp một tí ớt tương đầu múi đũa bỏ vào tô là ớt từ từ bung ra như nhụy hoa trên mặt nước bún.
Cung cách nêm tô bún trước khi ăn cũng thể hiện phần nào phong thái của người ăn. Vẻ e dè chờ đợi của khách mới, dáng khoan thai của giới nhàn du, sự xông xáo của người đói bụng, cách lịch lãm của kẻ từng quen... là những biểu hiện thường tình trước tô bún.
Khi đã nêm xong, húp một muỗng nước bún khai vị để cảm nhận được cái chất ngọt thanh pha đủ mùi gia vị. Mùi sả, mùi ruốc, mùi xương hầm, mùi thịt luộc, mùi chanh, mùi rau, mùi tiêu hành nước mắm... đã biến chất, đã quyện vào nhau tạo thành mùi bún bò có sức hấp dẫn lạ lùng riêng của nó. Miếng giò heo thanh nhã trong tô bún với lớp da mỏng có bìa da úp quanh miếng thịt nạc như đài hoa chưa nở nên thường gọi là giò "búp”. Cắn miếng giò, những sợi thịt trắng vừa béo, vừa ngọt vẫn còn thơm mùi thịt tươi mới chín nhẹ nhàng bốc hơi trên hai cánh mũi. Gắp lát thịt bò bắp. Lát thịt bò mỏng với những đường gân, sứa thịt và viền mỡ dòn tan giữa hai kẻ răng và vị ngọt béo miên man trên đầu lưỡi. Tô bún bò Huế vơi dần nửa như thách thức, nửa như mời gọi khách rằng, chưa cạn hết tô chưa gác đũa.

4.5. Cơ sở khoa học:
Bún bò Huế ăn thật nhiều kiểu, nhưng có lẽ đặc sắc nhất là bún bò giò heo. Do được chế biến từ nhiều loại thực phẩm, đồng thời ăn cùng với lượng rau tươi khá lớn, nên món ăn rất giàu dinh dưỡng. Tuy nhiên, cần cảnh giác với năng lượng và tỷ lệ chất béo từ món ăn này. Mỗi tô bún bò cung cấp đến 650 Kcalo (tương đương một bữa cơm), trong đó có đến gần 50% năng lượng là từ chất béo.
Để tránh những nguy cơ về sức khoẻ có thể có, nên thưởng thức món bún bò khéo léo một chút, nhất là với những người cao tuổi hoặc đã có các bệnh lý mãn tính, rối loạn chuyển hóa chất béo. Thành phần chất béo chủ yếu trong bún bò Huế là acid béo no hay cholesterol, không tốt cho tim và mạch máu.
- Nên ăn thêm nhiều rau sống để tăng lượng chất xơ cho bữa ăn.
- Nếu đã bị cao huyết áp hay có bệnh lý ở thận, tốt nhất bỏ đi phần nước dùng trong tô, vì món này thường được nấu khá mặn.
- Đừng quên vắt thêm vào tô bún một miếng chanh tươi, giúp tăng hương vị của món ăn và cung cấp thêm một lượng vitamine C đủ để hấp thu các chất khoáng cần thiết.

5. Mì Quảng:
5.1. Nguồn gốc:
Từ thế kỉ XVI , nhà Nguyễn dời kinh đô vào Phú Xuân -Huế , thì cả nước đã hình nên những trung tâm kinh tế, văn hóa lớn như Thăng Long, Phố Hiến, Phú Xuân, Hội An, Cù Lao Phố, Mỹ Tho, Hà Tiên. Và Hội An - Quảng Nam được xem là một trung tâm kinh tế, văn hóa và là một thương cảng quốc tế lớn phồn hoa ở miền Trung. Vào thế kỷ thứ 16 dưới triều các Chúa Nguyễn đất Quảng Nam đã ổn định từ lâu và thành phố Hội An đã thành một hải cảng quốc tế buôn bán phồn thịnh. Ngoài người Tàu đến lập nghiệp ở đây rất đông lập hẳn một cái làng Minh Hương đến nay vẫn còn, còn có các thương nhân Nhật Bản, Hòa Lan, Tây Ban Nha... đến mở cửa hiệu hoặc lui lới làm ăn. Trong một thành phố như thế thì dĩ nhiên việc ăn uống phát triển cửa hàng ăn phải nhiều, và người Tàu, với truyền thống nấu nướng phong phú nổi tiếng của họ, chắc chắn là nhiều ưu thế. Những món ăn nổi tiếng của Hội An về sau nầy như hoành thánh, cao lầu cũng vẫn là món ăn của người Tàu. Và vào thời xa xưa ấy dĩ nhiên người Tàu đã đem món mì của họ vào Hội An.
Nếu gọi "thức ăn là văn hóa” thì dân Quảng Nam vào thời ấy đã ở trong một luồng giao lưu văn hóa rất sớm, ít ra chỉ mới trong việc nếm thức ngon vật lạ của bốn phương. Những nhà cách mạng của Quảng Nam sau ngày dễ nhạy cảm với phong trào Duy Tân, đi tiền phong trong nhiều công cuộc đổi mới có lẽ một phần cũng nhờ là hậu duệ của một lớp người đã có dịp mở rộng tầm mắt từ

Yêu cầu kết nối

Hỗ trợ trực tuyến

Tỷ giá ngoại tệ

USD
EUR
JPY
GBP
HKD
CHF
AUD
CAD
SGD
(Nguồn Ngân hàng Eximbank)

Giá vàng 9999

(Nguồn Ngân hàng Sacombank)

Quảng cáo

Lọc nước Mỹ tại Việt Nam
Máy khử trùng không khí bằng Ozones
Bếp Hồng ngoại Khalux KL289
Thành công- giải pháp Quảng cáo hiệu quả
Máy làm bún, bánh hỏi
Máy lọc nước uống cho gia đình
Máy làm đá viên
Sinh tố Shimono- Malaysia
Lò nướng điện
Bộ nồi nấu ăn
 

Thông báo

Sản phẩm đã được thêm vào giỏ hàng
Bạn có:
Số lượng:
Giá trị:
Tiếp tục mua hàng Thanh toán